Cách phòng ngừa và xử trí cơn hen phế quản khi trời trở lạnh
Hen phế quản là một bệnh lý viêm mạn tính đường hô hấp lan toả do nhiều kích thích khác nhau gây co thắt phế quản phục hồi hoàn toàn hay một phần, thường xuất hiện từng cơn với các biểu hiện như khò khè, ho (có thể kèm theo ho đờm), khó thở. Biểu hiện nặng khi thở gắng sức, có thể nghe rõ tiếng rít khi thở, chân tay lạnh, vã mồ hôi…
Hen phế quản là bệnh có thể ảnh hưởng đến mọi lứa tuổi và giới tính. Tuy nhiên, các cơn hen thường khởi phát hoặc diễn biến nặng hơn do các yếu tố thay đổi đột ngột từ môi trường, bao gồm:
- Thay đổi thời tiết: Không khí lạnh, không khí quá khô hoặc độ ẩm không khí tăng cao.
- Ô nhiễm: Bụi bẩn, khói, và không khí ô nhiễm.
Ngoài ra, các tác nhân gây bệnh đường hô hấp, điển hình là virus (như virus cúm), cũng là nguyên nhân quan trọng. Chúng làm tăng phản ứng kích thích tại niêm mạc đường hô hấp, dẫn đến hiện tượng co thắt đột ngột đường thở, gây ra các triệu chứng điển hình như thở khò khè, thở rít và làm giảm thông khí phổi.

Những biểu hiện điển hình khi người bệnh lên cơn hen bao gồm:
- Khò khè, khó thở: Khi đường hô hấp bị co thắt làm chít hẹp đường thở, không khí đi vào phổi khó khăn gây ra tiếng khò khè, nặng hơn là những tiếng rít người xung quanh ở gần có thể cảm nhận thấy được.
- Ho, tức ngực, mệt ngực: Người bệnh lên cơn hen thường có biểu hiện ho nhiều, có thể ho khan hoặc ho nhiều đờm. Nếu bệnh nhân ho đờm vàng hay lượng đờm tăng lên cần chú ý nhiễm trùng đường hô hấp.
- Khi cơn hen nặng, người bệnh thường cố gắng thở, dẫn đến cảm giác tức ngực, mệt ngực, vã mồ hôi, chân tay lạnh… do lượng oxy trong máu giảm.
Nếu cơn hen nặng không được xử trí kịp thời người bệnh có thể tử vong trước khi được đưa đến cơ sở y tế gần nhất.

Như vậy, việc dự phòng và xử trí cơn hen trước khi đưa người bệnh tới cơ sở y tế là việc hết sức cần thiết, mỗi người bệnh khi được xác định mắc bệnh hen phế quản cần phải được giáo dục, hướng dẫn những bước cơ bản có thể tự làm được trong việc xử trí cơn hen cấp, bao gồm:
- Sử dụng thuốc giãn phế quản dạng xịt: Ventolin, Seretide… là những thuốc ở dạng hóa hơi tác dụng trực tiếp lên niêm mạc đường hô hấp qua đường miệng giúp giãn phế quản, tăng lưu thông khí cho phổi. Ưu điểm của thuốc là được thiết kế nhỏ gọn, hàm lượng thuốc được tính cẩn thận cho mỗi liều xịt, tác dụng nhanh, người bệnh dễ dàng mang theo bên mình để sử dụng cho những khi khẩn cấp.
- Sử dụng thuốc đường uống: Salbutamol, corticoide…. khi xuất hiện đợt cấp và có thể sử dụng trong bệnh viện hoặc ngoại trú. Việc sử dụng các thuốc corticoid và salbutamol đường uống là ngắn hạn, chỉ có tác dụng cắt cơn hen cấp, không có tác dụng trong dự phòng hen.
- Người bị hen phế quản nên có chiến lược điều trị và quản lý dài hạn. Việc dự phòng hen bằng các thuốc giản phế quản có kèm hay không corticoid được chỉ định dựa vào đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân (bậc hen). Vai trò chính của quản lý (dự phòng) hen phế quản là kiểm soát bệnh, giảm tần suất và mức độ nghiêm trọng của các cơn hen, duy trì chất lượng cuộc sống tốt cho người bệnh và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm.
- Giữ ấm đường thở, cơ thể khi trời trở lạnh. Tránh các yếu tố kích thích khởi phát cơn hen.
- Chế độ luyện tập: các bài tập nhẹ nhàng như yoga, dưỡng sinh trong môi trường phòng, làm tăng thông khí phổi, tăng sức đề kháng, nâng cao thể trạng.
- Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Người bệnh hen phế quản phải được kiểm tra sức khỏe định kỳ, điều trị các bệnh lý nền, giảm nguy cơ bội nhiễm đường hô hấp.
Kết luận: Hen phế quản là một bệnh mạn tính phổ biến, có diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ đe dọa tính mạng. Vì vậy, người bệnh cần được theo dõi, quản lý và chăm sóc liên tục. Việc này đặc biệt quan trọng khi thời tiết chuyển mùa hoặc thay đổi đột ngột, nhằm giúp người bệnh kiểm soát và phòng tránh hiệu quả các cơn hen cấp tính.
Tài liệu tham khảo:
1 Global Initiative for Asthma (GINA) 2006.
2 Global Initiative for Asthma (GINA). Global strategy for asthma management and prevention 2011.
3 Christopher K. W Lai et al. Asthma Control in Asia Pacific Region ARIAP Study. J Aller Clin Immunol 2003,(2) 262-267
