fbpx
Chuyên đề KCBDa liễu chuyên sâuTin nổi bật

ĐIỂM GIẢI PHẨU – SINH SINH LÝ VỀ MÓNG

Ts.Bs. Nguyễn Thế Toàn

Móng gồm 4 bờ, nếp da quanh móng gồm 3 bờ là: bờ sau và 2 bờ bên chèn vào một cái rãnh hình móng ngựa gọi là rãnh quanh móng. Rãnh này được hình thành do sự gấp của da. Nếp gấp ở sau vùng gốc móng gọi là nếp gấp trên móng, nếp gấp hai bên gọi là nếp gấp bên. Bờ thứ 4 ở phía đầu ngón còn gọi là bờ tự do móng mọc dài ra liên tục.

Hình 1: Cấu trúc của móng (Nguồn Baran & Dawber’s 2012)

Nếp dưới móng (Hyponychium): dài chừng 1-2mm phủ mặt móng. Vùng da ngay dưới bờ tự do của móng, có một khe gọi là khe dưới móng với đặc điểm không có đường vân tay và tuyến bã. Nếp gấp da hai bên móng liên tục với nếp gấp da gốc móng phủ lên xung quanh móng và gắn trực tiếp với mặt trên phiến móng nó rất khít không cho nước thoát ra. Đồng thời có nhiệm vụ bảo vệ không cho các tác nhân bệnh lý như: nấm, vi khuẩn và chất kích thích gây dị ứng xâm nhập vào tổ chức móng đặc biệt là mầm móng. Do vậy khi biểu mô tách ra khỏi mặt móng thì đặc tính chống nước của nó bị mất tạo điều kiện cho các vi sinh vật và yếu tố kích thích tràn vào tích tụ hoặc phát triển có khả năng gây bệnh.

          Nếp móng gần (Proximal nail fold (posterior nail fold): da có cấu trúc gấp khúc có thể thể nhìn thấy bờ của móng, nó liên tục với tiều bì (Cuticle). Ở mặt dưới trở thành mặt lưng của mầm móng

          Nếp móng bên (Lateral nail folds): là cấu trúc nếp gấp trên da cung cấp các đường viền bên cho móng.

          Tiểu bì: Cuticle (eponychium):): lớp thượng bì kéo dài từ nếp gấp móng gần và dính vào mặt lưng của đĩa móng hay còn gọi là phần da xung quanh đường chân móng.

          Phiến móng (đĩa móng): móng là một cấu trúc  sừng hóa hoàn toàn, được tạo ra liên tục bởi mầm móng. Tế bào sừng của mầm móng tăng sinh và trải qua quá trình biệt hóa đột ngột với sự mất nhân và sự kết dính chặt chẽ giữa các tế bào tạo nên phiến móng (đĩa móng). Cấu tạo phiến móng liên quan đến chất cơ bản của tổ chức xung quanh móng. Nguồn cung cấp tế bào sừng được tạo ra từ rễ móng, đặc biệt mô dưới liềm móng cung cấp cho phần bụng móng. Phiến móng: mọc liên tục từ gốc móng ra phía ngoài theo chiều dọc đến bờ tự do. Hàng ngày móng tay mọc dài khoảng 0,1mm còn móng chân chỉ mọc dài bằng 1/3-1/2 độ dài mọc móng. Do vậy khi móng bị nhổ thời gian để móng mọc trở lại hoàn chỉnh dạng ban đầu ở móng tay khoảng 6 tháng còn móng chân khoảng 12-18 tháng đó là cơ sở để ta điều trị và theo dõi khi móng bị tổn thương bởi nấm. Chức năng quan trọng của móng là bảo vệ xương đầu ngón và tham gia chức năng xúc giác do lưới mạch thần kinh biểu mô tận cùng giường móng. Ngoài ra, móng còn tạo dáng, dùng để gãi và cầm giữ những đồ vật nhỏ. Do vậy khi móng bị tổn thương vì các nguyên nhân khác nhau đặc biệt là nấm móng sẽ tác động đến tâm lý, thẩm mỹ và nghề nghiệp của bệnh nhân. Mảng nổi lên từ bên dưới nếp gấp móng gần và phát triển ra xa, được bao quanh bởi các nếp bên và dính chặt với giường móng, cho đến khi nó tách ra tương ứng với lớp dưới móng. Có cấu tạo rộng gần giống hình chữ nhật dày 0,5 đến 0,75mm, trong suốt và có bề mặt nhẵn bóng, được lót bởi các đường dọc mỏng tăng dần khi lão hóa. Móng là những miếng sừng dẹt lợp mặt lưng của đầu ngón tay và ngón chân. Độ dày cái móng đều và có rễ hình vát. Móng có 2 tầng, tầng trên rất dày tạo bởi mầm móng còn tầng dưới rất mỏng. Phiến móng nằm tựa trên giường móng một cách vững chắc ngoại trừ gốc sau và bên. Phần móng bị nếp gấp trên móng che khuất gọi là rễ móng, phần lộ ra ngoài gọi là thân móng. Giữa móng và khe đầu ngón có một cái khe gọi là khe dưới móng. Hình dáng bờ tự do của phiến móng tương đương đường viền xa của liềm móng. Từ bờ xa liềm móng đến bờ tự do của móng bình thường có màu hồng do biểu hiện màu máu ở dưới móng khi ta quan sát qua phiến móng. Các đặc điểm vật lý của tấm móng rất độc đáo và cần thiết cho các mục đích sử dụng của nó: nó cứng và khó gãy, nhưng đàn hồi và có thể uốn cong, chịu được hóa chất và bám chặt vào các mô bên dưới . Những đặc điểm này là do hàm lượng cao trong keratins cứng, chiếm 80–90% và cấu trúc giải phẫu cụ thể của nó bao gồm ba lớp:

  •  Phần lưng, dày 0,08–0,1 mm, bao gồm các tế bào dẹt, chặt chẽ, có các sợi keratin được định hướng song song và vuông góc đến trục tăng trưởng. Phần này mang lại độ cứng và độ sắc của móng và được tạo ra bởi mầm móng gần.
  • Tấm móng trung gian, dày 0,3–0,5 mm, gồm các tế bào rộng và không đều, có keratin vuông góc với trục sinh trưởng. Điều này tạo cho móng sự linh hoạt và đàn hồi.
  • Tấm móng bụng, dày 0,06–0,08 mm, được tạo ra bởi lớp móng, cần thiết cho sự bám dính của tấm móng với lớp móng.

Giường móng (Nail bed): Dưới cái móng là lớp thượng bì tiếp nối với biểu bì quanh móng bởi nếp gấp trên móng và nếp gấp bên. Phần thượng bì dưới thân móng gọi là giường móng (Nail bed). Giường móng: gồm toàn bộ lớp biểu mô dưới bản móng, giàu mạch máu nuôi dưỡng từ cung động mạch bắt nguồn từ động mạch ngón tay. Từ lâu người ta cho rằng thuốc chỉ có thể đến móng bằng cách ngấm vào chất Keratin khi móng mọc dài ra, nhưng gần đây người ta nhận thấy điều này là không đúng. Hiện nay người ta thấy rằng sự cấp máu cho giường móng cho phép thuốc khuếch tán vào tất cả các phần của móng không như trước đây cho rằng chỉ ngấm vào rễ móng .Ngoài ra mạch máu vùng trung bì phía dưới còn tham gia điều hòa nhiệt độ bình thường ở đầu ngón. Các mao mạch máu của bộ móng được định hướng theo những cách khác nhau tùy theo vị trí. Các mao mạch của nếp gấp móng gần chạy song song với bề mặt da, thành những đường dọc với những vòng nếp ở xa theo chiều dọc. Trong điều kiện bình thường, số lượng của chúng là khoảng 30/5 mm. Có thể dễ dàng nhìn thấy chúng bằng kính soi da với độ phóng đại 20–40. Những thay đổi về số lượng và hình dạng của các mao mạch nếp gấp gần móng là điển hình của các bệnh liên quan, nơi chúng có thể được nghiên cứu cho các mục đích chẩn đoán và theo dõi. Các mao mạch của nền móng và lớp dưới móng có sự tương đồng với các mao mạch da, trong khi các mao mạch của lớp móng có một giải phẫu độc đáo, khi chúng chạy song song với bề mặt phiến móng dọc theo các đỉnh dọc của móng bỡi một số yếu tố bao gồm cả mùa, bệnh tật và thuốc.

Mầm móng (Nail Matrix): thượng bì ở dưới rễ móng gọi là mầm móng (Nail matrix). Mầm móng  tạo ra các phiếm móng liên tục trong suốt cuộc đời. Nó nằm được bảo vệ tốt dưới nếp gấp móng gần và ngay trên xương của đốt ngón xa, được nối với nhau bằng một gân nối với khớp xa. Đặc điểm mầm móng là lớp sinh sản và là lớp Malpighi khá dày. Những tế bào ở mầm móng phát triển từ đáy mầm ra thân móng và dẹt đi biến thành lá sừng đắp thêm vào mặt dưới của móng. Quá trình này nhờ vào sự phân chia nhân và sự đông đặc của bào tương để hình thành lớp sừng dẹt và chắc. Để hiểu được cấu trúc của mầm móng, chúng ta nên xem xét nó ở cả góc nhìn trực diện và nhìn ngang. Ở chế độ xem chính diện, mầm móng hiển thị hình móng ngựa, với hình ảnh xa ở chế độ xem chính diện, mầm móng hiển thị hình móng ngựa với độ lồi ở phía xa và hai sừng bên. Khi nhìn ngang, mầm móng có dạng hình chữ V và tiếp tục ở gần với biểu mô của nếp gấp móng gần và ở xa với giường móng. Tế bào sừng của mầm móng tăng sinh và biệt hóa dọc theo trục xiên để tạo thành phiến móng. Quá trình sừng hóa xảy ra đột ngột, mà không có sự hình thành lớp hạt, tương ứng với một vùng bạch cầu ái toan mỏng được gọi là vùng sừng hóa. Tế bào mầm mất nhân và gắn chặt với một tế bào chất hoàn toàn được lấp đầy bởi các keratins cứng. Điều này tạo ra một phiến móng hoàn toàn trong suốt, linh hoạt nhưng cứng và có khả năng chống đỡ . Khi quá trình sừng hóa và tăng sinh tế bào mầm xảy ra dọc theo trục xiên, mầm móng gần tạo ra mặt lưng và mầm móng xa tạo phiến móng bụng. Điều này rất quan trọng để chọn vị trí sinh thiết hoặc điều trị trong các bệnh móng khác nhau. Các bất thường của phiến móng lưng bắt nguồn từ việc tổn thương nền móng gần, trong khi những thay đổi của phiến bụng là do tổn thương nền móng xa. Bên cạnh tế bào sừng, mầm móng chứa các dòng tế bào khác, đặc biệt là tế bào hắc tố. Chúng có số lượng ít hơn ở da và thường nằm ở phía trên và trong với các cụm nhỏ từ 3–5 tế bào. Ở người da trắng, các tế bào hắc tố của nền móng thường không sản xuất melanin, vì hai lý do:

  • Hầu hết chúng, đặc biệt là ở chất nền gần, không thể hoạt hóa và không có DOPA (Dihydroxyphenylacetic acid: một hợp chất sinh lý chứa các acid amin), vì chúng không chứa đầy đủ các enzym để sản xuất melanin.
  • Các tế bào hắc tố có thể hoạt hóa, DOPA dương tính (có DOPA), hiện diện chủ yếu ở chất nền xa, được bảo vệ khỏi tia UV và cần kích hoạt mạnh trước khi bắt đầu sản xuất melanin. Điều này giải thích tại sao ở điều kiện bình thường, phiến móng không có dấu vết của melanin .Mặc dù không có sự thay đổi sinh lý chính biểu hiện giữa mặt bụng của phiến móng và lớp biểu mô giường móng ở nơi tiếp giáp, nhưng bề mặt của hai  nơi này gắn chặt đến nỗi khi dùng sức mạnh để kéo nhổ móng ra thì không tách được phiến móng và giường móng cũng như giường móng với trung bì bên dưới. Sự liên kết này được xen như là kết quả của các bện chéo tổ chức giữa trung bì và thượng bì của giường móng.

Liềm móng (Lunula): Phần gốc móng có hình bán nguyệt trắng gọi là liềm móng (Lunula). Liềm móng có mặt hầu hết ngón tay cái và ngón chân cái, còn các ngón khác thì một phần hoặc toàn bộ liềm móng được nếp da gốc móng bao phủ. Nguyên nhân liềm móng có màu trắng chưa được rõ ràng nhưng dường như do hai yếu tố:

  • Do quá trình sừng hóa chưa hoàn chỉnh của phiến móng.
  • Do biểu mô chất căn bản dầy làm mờ đi màu hồng của nguồn máu cung cấp ở bên dưới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bệnh viện da liễu TP HCM (1992). Nấm nông, Bệnh da và các bệnh lây qua đường sinh dục. Thành phố HCM, 384-388.

2.Bộ Y Tế (2010). Các bệnh nấm nông thường gặp. Da liễu học. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, trang 96-101.

3.Bộ Y Tế (2013). Xét nghiệm vi nấm. Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Vi sinh Y học, Hà nội, 736-738.

4.Bộ Y Tế (2015). Nấm Móng. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu. Hà Nội, 60-63.

5.Hoàng Thủy Long (1991). Các phương pháp kỹ thật nhuộm vi khuẩn. Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh Y học. Nhà xuất bản văn hóa, 318-323.

6.Adane Bitew  and Sinknesh Wolde (2019). Prevalence, Risk Factors, and Spectrum of Fungi in Patients with Onychomycosis in Addis Ababa, Ethiopia: A Prospective Study. Hindawi Journal of Tropical Medicine,Volume 2019, p6.

7.Baran & Dawber’s (2012). Diseases of the Nails and their Management. Edited by Robert Baran, Fourth Edition. A John Wiley & Sons, Ltd., Publication.

8.Bedaiwy M.Y. and et al (2017). Epidemiology, Causative Agents and Clinical Features of Onychomycosis in El-Gharbia Governorate. The 7th Inter. Conf.”Plant &Microbial Biotech. & their Role in the Development of the Society”pp.187 -196 (2017).

Thẻ
Show More

Related Articles

Đóng