THỰC TRẠNG KHÁNG KHÁNH SINH CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN THƯỜNG GẶP
Tổ chức Y tế Thế giới nhận định kháng kháng sinh là một trong mười mối đe dọa về sức khỏe, sự phát triển và an ninh y tế toàn cầu. Việc phát hiện ra penicillin và các kháng sinh khác là một tiến bộ y học quan trọng trong thế kỷ qua. Tuy nhiên sau đó là sự xuất hiện của các vi khuẩn làm giảm tác dụng của các thuốc kháng sinh. Sự xuất hiện nhanh của các vi khuẩn kháng với các loại kháng sinh mới ra đời dẫn đến việc các nhà sản xuất không đầu tư để nghiên cứu và sản xuất các loại kháng sinh do hiệu quả kinh tế thấp. Hơn nữa ở các quốc gia đang phát triển, thiếu các biện pháp can thiệp nhằm kiểm soát tình trạng vi khuẩn kháng với các loại kháng sịnh. Những điều này có thể dẫn chúng ta quay lại một kỷ nguyên không kháng sinh 1.
Vi khuẩn kháng kháng sinh gây ra gánh nặng bệnh tật và kinh tế lớn trên phạm vi toàn cầu. Số lượng ước tính vào năm 2019, trên toàn cầu có 1,27 triệu ca tử vong do vi khuẩn kháng thuốc và 4,95 triệu ca tử vong có liên quan đến vi khuẩn kháng kháng sinh 2. Báo cáo giám sát mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2021 cho thấy E. coli và K.pneumoniae là hai trong số các tác nhân kháng kháng sinh phổ biến nhất và là hai tác nhân có tỷ lệ đa kháng, nhiễm trùng huyết rất cao ở cả cộng đồng và bệnh viện. Đây là gánh nặng bệnh tật và kinh tế của toàn cầu, đặc biệt các quốc gia đang phát triển 3.
Việt Nam là một trong các quốc gia có tình trạng kháng kháng sinh trầm trọng. Một trong những lý do chính là sử dụng kháng sinh không kiểm soát tại cộng đồng và trong chăn nuôi 4.
Trong những năm qua Việt Nam đã có những quan tâm nhất định đến kiểm soát kháng kháng sinh. Bộ Y tế đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn 2013-2020 và đang xây dựng chiến lược phòng chống kháng thuốc giai đoạn 2022-2030.
Tuy nhiên nhằm hạn chế tình trạng đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng thì việc báo cáo tình hình đề kháng luôn được cập nhật thường xuyên và định kỳ về các nhà chức trách quản lý y tế nhằm tổng kết đánh giá sự kháng thuốc kháng sinh trong công tác điều trị, thông qua đó giúp các cơ sở điều trị có dữ liệu để cập nhật xây dựng các phác đồ điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm bước đầu, đồng thời giúp các nhà quản lý hoạch định những chính sách và chiến lược sử dụng kháng sinh một cách hợp lý, giúp các nhà dược học tìm ra những thuốc kháng sinh mới, những phác đồ phối hợp điều trị nhằm mang lại hiệu quả cho công tác điều trị.
Bên cạnh đó nhằm hạn chế tình trạng đề kháng kháng sinh ngày càng gia tăng thì chúng ta cần phải tuân thủ việc sử dụng kháng sinh một cách hợp lý nghĩa là chúng ta phải chọn đúng thuốc, đúng liều đủ thời gian và có đơn thuốc hợp lý. Việc thực trạng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn cũng có thay đổi theo chính sách sử dụng kháng sinh của từng khu vực và bệnh viện vì vậy các bệnh viện sẽ có các đặc điểm bệnh lý khác nhau thì tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn cũng không giống nhau.
Một nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tình hình kháng kháng sinh tại bệnh viện quận Tân Bình cho thấy nhóm vi khuẩn họ Enterobacteriaceae thì nhóm kháng sinh Cephalosporin thế hệ II và III đã có sự đề kháng ở mức cao (66%) và nhóm kháng sinh Carbapenem (Meropenem và Imipenem) có tỷ lệ kháng thấp dưới 1%. Với nhóm vi khuẩn S.aureus thì tỷ lệ kháng Methicilin đang ở mức cao (56%). Với nhóm vi khuẩn họ Non- Enterobacteriaceae đã xuất hiện các chủng đa kháng, đặc biệt kháng nhóm Carbapenem đây là điều phải chú ý trong công tác điều trị 5.
Một nghiên cứu khác tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ cho thấy tất cả chủng S.aureus trong nghiên cứu đều đề kháng với penicillin, S.aureus kháng Methicilin chiếm tỷ lệ 83%, S.aureus kháng Methicilin chiếm tỷ lệ cao trong mẫu bệnh phẩm đàm, mủ và máu. Điều này đáng lo ngại bởi vì tình hình kháng thuốc ngày càng cao ở các mẫu bệnh phẩm.
Theo tác giả Trần Thị Mai Hưng thì kết quả cho thấy 100% vi khuẩn Klebsiella spp. kháng với amoxicillin, kháng với cephalosporin thế hệ 3 là 37,3%, kháng với nhóm kháng sinh quinolon là 25,5%. Đáng quan tâm là nhóm kháng sinh carbapenem, kết quả từ nghiên cứu cho thấy 13% Klebsiella spp kháng với meropenem, tỷ lệ trung gian với kháng sinh này rất cao lên tới 31,4%. Qua đây cho thấy vi khuẩn Klebsiella spp từ nhiễm khuẩn cộng đồng tại Việt Nam có tỷ lệ kháng với các loại kháng khá cao hơn so với một số quốc gia trên thế giới. Điều này cho thấy được thực trạng của vi khuẩn Klebsiella spp ở ngoài bệnh viện với các loại kháng sinh ở nước ta 6.
Nghiên cứu khác ở bệnh viện tỉnh Ninh Thuận cho thấy các loại kháng sinh có tỷ lệ đề kháng cao với vi khuẩn gram âm đường ruột:
- Escherichia coli đề kháng với cefotaxim, tobramycin (100%), ampicillin (92%), cefotaxim (86%), bactrim (85%), cefuroxim (81%), ceftriaxon (97%), ciprofloxacin (76%), ceftazidim (75%), levofloxacin (72%), gentamicin (67%), cefepim (65%), tetracyclin (60%), amox/clav.ac (32%), ampicillin/sulbactam (15%), netilmicin (11%), amikacin (8%), meropenem, piperacillin/tazobactam (5%), imipenem (2%).
- Klebsiella đề kháng với ampicillin (98%), bactrim (76%), amox/clav.ac (47%), cefuroxim (43%), ceftriaxon, tetracyclin (32%), cefotaxim (31%), gentamicin (30%), ceftazidim (29%), cipofloxacin (25%), cefepim (21%), levofloxacin (19%), ampicillin/sulbactam (18%), piperacillin/tazobactam (15%), meropenem (14%), imipenem (12%), amikacin (9%) và còn nhạy hoàn toàn với cefoxitin, doxycycin.
- Enterobacter spp.đề kháng với amox/clav.ac, ampicillin (100%), ceftriaxon (50%), cefuroxim (45%), cefotaxim (44%), ceftazidim (36%), còn nhạy với amikacin, ampicillin/sulbactam, cefepim, cipofloxacin, gentamicin, imipenem, levofloxacin, meropenem, netilmicin, piperacillin/tazobactam 7.
Trước những cảnh báo về tình hình đề kháng kháng sinh hiện nay, việc thường xuyên khảo sát tác nhân gây bệnh, thực hiện các xét nghiệm để biết được nồng độ ức chế tối thiểu và tình hình đề kháng kháng sinh của tác nhân gây bệnh sẽ giúp bác sĩ chỉ định kháng sinh phù hợp là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chi phí cũng như sự thành công trong điều trị cũng như góp phần thực hiện tốt quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện của mình cũng như ở Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- WHO (2021), Antimicrobial resistance, https://www.who.in/new-room/fact-sheets/detail/antimicrobial- resistance.
- Chirstopher JL Muray et al. (2022), “Global burden of bacterial antimicrobial resistance in 2019: a systematic analysis”, The Lancet, 339(10325),tr 629-655.
- World Health Organization (2021), “Global antimicrobial resistance and use surveillance system (GLASS) report:2021 “.
- WHO (2022), Vietnam/Health topic/ Antimicrobial resistance, https://www.who.int/vietnam/ health-topic/ Antimicrobial-resistance
- Trương Anh Dũng và cộng sự. Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh trên hệ vi khuẩn phân lập thường quy tại Bệnh viện Quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh 2016-2017.
- Nguyễn Thị Bé Hai và cộng sự. Xác định tỷ lệ nhiễm và sự đề kháng kháng sinh Staphylococuss aureus kháng Methicilline được phân lập từ bệnh phẩm tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ và Bệnh Viện Đa Khoa Thành Phố Cần Thơ năm 2020-2021.
7. Nguyễn Vĩnh Nghi và cộng sự. Khảo sát tình hình đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram âm đường ruột thường gặp tại bệnh viện tỉnh Ninh Thuận năm 2019 – 2020.
