fbpx
Chuyên đề KCBDa liễu chuyên sâu

Nevus tuyến bã vùng da đầu: báo cáo ca lâm sàng – mô bệnh học

TÓM TẮT

Nevus tuyến bã (nevus sebaceus, còn gọi là nevus sebaceus of Jadassohn) là một hamartoma dạng cơ quan (organoid hamartoma) của da, liên quan đồng thời đến thượng bì và các cấu trúc phần phụ da, đặc biệt là đơn vị nang lông – tuyến bã. Tổn thương thường gặp ở vùng đầu – cổ và có thể thay đổi hình thái theo tuổi. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nevus tuyến bã khu trú ở da đầu. Mô bệnh học cho thấy thượng bì tăng sản nhẹ, nhiều tiểu thùy tuyến bã phát triển rõ và nằm tương đối nông trong trung bì, xen kẽ các cấu trúc nang lông biến dạng hoặc kém phát triển. Các tế bào tuyến bã trưởng thành, không thấy bất thường tế bào học rõ; trên các lát cắt khảo sát chưa thấy tân sinh thứ phát. Sự phối hợp giữa vị trí lâm sàng và đặc điểm mô bệnh học phù hợp với chẩn đoán nevus tuyến bã. Ca bệnh nhấn mạnh giá trị của đối chiếu lâm sàng – mô bệnh học trong xác định chẩn đoán ở những tổn thương có biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu, đồng thời giúp đánh giá các thay đổi thứ phát có thể xuất hiện theo thời gian.

Từ khóa: nevus tuyến bã; nevus sebaceus; hamartoma phần phụ da; tuyến bã; mô bệnh học.

ABSTRACT

Nevus sebaceus of Jadassohn is an organoid cutaneous hamartoma involving the epidermis and adnexal structures, particularly the folliculosebaceous unit. It most commonly affects the head and neck and may evolve clinically and histologically with age. We report a case of localized nevus sebaceus of the scalp. Histopathological examination showed mild epidermal hyperplasia, numerous prominent sebaceous lobules situated relatively high in the dermis, and abnormal or underdeveloped follicular structures. Sebaceous cells were mature without significant cytologic atypia, and no secondary neoplasm was identified in the examined sections. Clinicopathological correlation supported the diagnosis of nevus sebaceus. This case highlights the value of histopathology in recognizing lesions with nonspecific clinical morphology and in assessing secondary changes that may develop over time.

Keywords: nevus sebaceus; sebaceous nevus; cutaneous hamartoma; sebaceous gland; histopathology.

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nevus tuyến bã là một hamartoma dạng cơ quan của da, trong đó có sự phát triển bất thường của thượng bì, nang lông, tuyến bã và có thể cả tuyến apocrine.1 Tổn thương thường xuất hiện từ nhỏ, hay gặp ở da đầu và vùng mặt; hình thái có thể từ dát hoặc mảng màu vàng – nâu, tương đối phẳng ở giai đoạn sớm đến bề mặt dày, gồ hoặc dạng sùi hơn sau tuổi dậy thì.2,3

Về cơ chế bệnh sinh, nevus tuyến bã được xem là một rối loạn khảm soma do đột biến sau hợp tử, thường liên quan đến các biến thể hoạt hóa của HRAS hoặc KRAS…2 Mô bệnh học của nevus tuyến bã thay đổi theo tuổi; ở giai đoạn trưởng thành thường ghi nhận tăng sản thượng bì với mức độ khác nhau, các tiểu thùy tuyến bã phát triển rõ và nằm tương đối nông trong trung bì, kèm các nang lông kém phát triển hoặc có hình thái bất thường.3 Việc xác định đúng chẩn đoán có ý nghĩa vì trên nevus tuyến bã có thể xuất hiện nhiều tân sinh thứ phát, phần lớn là lành tính.4,5

Bài viết báo cáo một trường hợp nevus tuyến bã vùng da đầu, tập trung đối chiếu biểu hiện lâm sàng với các đặc điểm mô bệnh học giúp xác định chẩn đoán và đánh giá khả năng có tân sinh thứ phát.

  1. BÁO CÁO CA LÂM SÀNG

Người bệnh đến khám vì tổn thương vùng da đầu. Khám lâm sàng ghi nhận một tổn thương đơn độc màu nâu, giới hạn tương đối rõ. Do đặc điểm lâm sàng không đặc hiệu, người bệnh được sinh thiết tổn thương để khảo sát mô bệnh học và xác định chẩn đoán.

Hình 1. Tổn thương khu trú vùng da đầu, màu nâu, giới hạn tương đối rõ.

  1. MÔ BỆNH HỌC

Mẫu sinh thiết được xử lý thường quy, đúc paraffin và nhuộm hematoxylin-eosin. Ở độ phóng đại thấp, thượng bì tăng sản nhẹ. Trung bì có nhiều tiểu thùy tuyến bã phát triển rõ, phân bố tương đối nông và xen kẽ các cấu trúc nang lông có hình thái bất thường.

Ở độ phóng đại cao hơn, các tiểu thùy tuyến bã gồm các tế bào mầm nhỏ ở ngoại vi và các tế bào tuyến bã trưởng thành ở trung tâm, có bào tương rộng, sáng và nhiều không bào Một số tuyến bã liên quan mật thiết với các cấu trúc nang lông biến dạng hoặc kém phát triển. Các tế bào tuyến bã trưởng thành, không thấy bất thường tế bào rõ, hoại tử hoặc tăng hoạt động phân bào Trên các lát cắt khảo sát chưa thấy hình ảnh tân sinh thứ phát.

Các đặc điểm trên phù hợp với nevus tuyến bã (nevus sebaceus of Jadassohn). Trên các lát cắt khảo sát hiện tại chưa thấy tân sinh thứ phát.

Hình 2. Mô bệnh học nevus tuyến bã (HE). A: toàn cảnh cho thấy nhiều tiểu thùy tuyến bã phát triển rõ trong trung bì, xen các cấu trúc nang lông bất thường (mũi tên). B: các tiểu thùy tuyến bã nằm tương đối cao trong trung bì (mũi tên). C: tuyến bã phát triển quanh cấu trúc nang lông biến dạng (mũi tên). D: các tiểu thùy tuyến bã gồm nhiều tế bào bã trưởng thành có bào tương sáng (mũi tên).

  1. BÀN LUẬN

Nevus tuyến bã là một hamartoma dạng cơ quan của da, với sự tham gia của thượng bì và nhiều cấu trúc phần phụ, đặc biệt là đơn vị nang lông – tuyến bã. Các nghiên cứu mô bệnh học lớn cho thấy những đặc điểm thường gặp gồm tăng sản thượng bì, papillomatosis, tăng sản tuyến bã và kèm các nang lông kém phát triển hoặc có hình thái bất thường.3 Ở da đầu, số lượng các nang tóc trưởng thành thường giảm cũng là một đặc điểm thường gặp.3

Trong trường hợp này, dấu hiệu có giá trị nhất là sự hiện diện của nhiều tiểu thùy tuyến bã phát triển rõ, nằm tương đối nông trong trung bì và liên quan với các cấu trúc nang lông bất thường. Sự kết hợp này phù hợp với một hamartoma của đơn vị nang lông – tuyến bã hơn là tăng sản tuyến bã đơn thuần. Tăng sản tuyến bã thông thường thường biểu hiện bằng các tiểu thùy tuyến bã tập trung quanh một phễu nang lông giãn, nhưng không tạo một vùng biến đổi rộng của nhiều cấu trúc phần phụ như trong nevus tuyến bã.

Chẩn đoán phân biệt trên mô bệnh học gồm tăng sản tuyến bã, nevus thượng bì và một số hamartoma của đơn vị nang lông – tuyến bã. Trong những trường hợp hình ảnh không điển hình, cần đánh giá toàn bộ cấu trúc mô học ở độ phóng đại thấp, mức độ phát triển của tuyến bã, đặc điểm của nang lông và các biến đổi thượng bì đi kèm, thay vì dựa vào một dấu hiệu riêng lẻ.

Một vấn đề quan trọng trong theo dõi nevus tuyến bã là khả năng xuất hiện tân sinh thứ phát. Trong nghiên cứu 596 trường hợp của Cribier và cộng sự, u thứ phát chủ yếu là lành tính, thường gặp nhất là syringocystadenoma papilliferum và trichoblastoma; ung thư biểu mô tế bào đáy chỉ chiếm tỷ lệ thấp.4 Nghiên cứu 707 mẫu của Idriss và Elston cũng cho thấy đa số tân sinh thứ phát là lành tính, trong khi các u ác tính chiếm tỷ lệ thấp và hầu hết xuất hiện ở người trưởng thành.5

Trên các lát cắt của ca hiện tại chưa thấy các đám tế bào basaloid kiểu trichoblastoma, cấu trúc nhú – nang đặc trưng của syringocystadenoma papilliferum, hoặc dấu hiệu của tân sinh ác tính. Vì vậy, kết luận “nevus tuyến bã, trên các lát cắt khảo sát chưa thấy tân sinh thứ phát” là phù hợp với mẫu mô hiện có.

Xử trí nevus tuyến bã cần cá thể hóa theo tuổi, vị trí, kích thước, triệu chứng, yếu tố thẩm mỹ và sự xuất hiện các dấu hiệu bất thường mới như nốt gồ, loét, chảy máu hoặc tăng kích thước nhanh. Các nghiên cứu hiện nay cho thấy nguy cơ ác tính nhìn chung thấp; do đó, quyết định cắt bỏ dự phòng không nhất thiết giống nhau ở mọi trường hợp.5,6 Khi tổn thương xuất hiện nốt mới, loét, chảy máu, tăng kích thước nhanh hoặc thay đổi rõ về hình thái, sinh thiết hoặc cắt bỏ để khảo sát mô bệnh học là cần thiết.5,6

  1. KẾT LUẬN

Nevus tuyến bã là hamartoma dạng cơ quan của da có biểu hiện lâm sàng thay đổi và mô bệnh học đặc trưng bởi sự phối hợp bất thường của thượng bì và các cấu trúc phần phụ. Trong trường hợp này, nhiều tiểu thùy tuyến bã phát triển rõ, nằm nông trong trung bì và liên quan các cấu trúc nang lông bất thường là những dấu hiệu chính hỗ trợ chẩn đoán. Trên các lát cắt khảo sát chưa ghi nhận tân sinh thứ phát. Đối chiếu lâm sàng – mô bệnh học giúp xác định chẩn đoán, đồng thời định hướng theo dõi và sinh thiết lại khi tổn thương có biến đổi mới.

LỜI CẢM ƠN

Tác giả cảm ơn các đồng nghiệp đã hỗ trợ cung cấp hình ảnh lâm sàng và tiêu bản mô bệnh học phục vụ việc hoàn thiện báo cáo ca bệnh.

CAM KẾT KHÔNG XUNG ĐỘT LỢI ÍCH

Tác giả cam kết không có xung đột lợi ích liên quan đến bài viết này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. WHO Classification of Tumours Editorial Board. Skin Tumours. 5th ed. Lyon, France: International Agency for Research on Cancer; 2025.
  2. Groesser L, Herschberger E, Ruetten A, et al. Postzygotic HRAS and KRAS mutations cause nevus sebaceous and Schimmelpenning syndrome. Nat Genet. 2012;44(7):783-787. doi:10.1038/ng.2316.
  3. Kamyab-Hesari K, Seirafi H, Jahan S, et al. Nevus sebaceus: a clinicopathological study of 168 cases and review of the literature. Int J Dermatol. 2016;55(2):193-200. doi:10.1111/ijd.12845.
  4. Cribier B, Scrivener Y, Grosshans E. Tumors arising in nevus sebaceus: a study of 596 cases. J Am Acad Dermatol. 2000;42(2 Pt 1):263-268. doi:10.1016/S0190-9622(00)90136-1.
  5. Idriss MH, Elston DM. Secondary neoplasms associated with nevus sebaceus of Jadassohn: a study of 707 cases. J Am Acad Dermatol. 2014;70(2):332-337. doi:10.1016/j.jaad.2013.10.004.

6. da Silva Neto MP, de Assis BR, Andrade GR. Sebaceous nevus of Jadassohn: review and clinical-surgical approach. An Bras Dermatol. 2022;97(5):628-636. doi:10.1016/j.abd.2021.11.001.

Show More

Related Articles

Back to top button